Hoạt
động huấn luyện ATVSLĐ đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung
và phương pháp huấn luyện. Số người được huấn luyện năm sau cao hơn năm
trước, từ năm 2000-2004, trung bình mỗi năm huấn luyện cho trên 70
nghìn lượt cán bộ quản lý, trên 15 nghìn lượt chủ doanh nghiệp, cơ sở
sản xuất kinh doanh, trên 700 nghìn lượt cán bộ làm công tác BHLĐ, y tế
tại doanh nghiệp và hàng triệu người lao động. Công tác nghiên cứu khoa
học kỹ thuật về BHLĐ, ATVSLĐ đã được chú trọng và đẩy mạnh ở các bộ,
ngành và các doanh nghiệp lớn. Từ năm 2000-2004, gần 100 đề tài và dự
án cấp nhà nước và cấp bộ đã được nghiên cứu, ứng dụng, triển khai phục
vụ sản xuất. Các hoạt động hợp tác quốc tế về AT-VSLĐ đã được tăng
cường và mở rộng với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Cộng hoà
Liên bang Đức và các tổ chức quốc tế ILO, WTO, WB, ADB..., thu hút hơn
100 tỷ đồng viện trợ không hoàn lại và các hỗ trợ kỹ thuật khác, giúp
Việt Nam giảm thiểu TNLĐ, bệnh nghề nghiệp (BNN), hỗ trợ doanh nghiệp
hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, công tác BHLĐ trên thực tế vẫn đang còn gặp không ít khó khăn, tồn tại cần được giải quyết, cụ thể:
-
Hoạt động thông tin, tuyên truyền chưa thường xuyên, rộng rãi, thiếu sự
đồng bộ giữa các cơ quan. Việc phổ biến và hướng dẫn các văn bản pháp
luật ở các bộ, ngành, địa phương chưa xuống tới cơ sở, thường chỉ đến
được cán bộ chủ chốt, chưa tới người lao động nên, khó khăn trong việc
tổ chức thực hiện và nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và
người lao động.
-
Công tác giáo dục, huấn luyện chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ yêu cầu
của thực tiễn. Số lượng người được huấn luyện về ATVSLĐ vẫn còn cách xa
so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động. Trong các trường đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chưa có hoặc có quá ít
giáo viên chuyên trách giảng dạy về BHLĐ, ATVSLĐ, chủ yếu là kiêm
nhiệm, chưa có giáo trình thống nhất về môn học ATVSLĐ cho các cấp học.
Việt
Nam
là một trong số rất ít các quốc gia trong khu vực không có cơ sở riêng
để huấn luyện về ATVSLĐ cho người sử dụng lao động và người lao động.
-
Lĩnh vực thanh tra, kiểm tra BHLĐ, ATVSLĐ hoạt động chưa hiệu quả. Hàng
năm, chỉ có khoảng từ 5-8% doanh nghiệp được thanh tra về lao động. Đặc
biệt, một số lĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp, các doanh nghiệp tư
nhân, các làng nghề chưa được thanh tra, kiểm tra. Các vụ TNLĐ chết
người hầu hết đều chỉ xử lý hành chính nội bộ, số bị truy cứu trách
nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% tổng số vụ, nên tác dụng giáo dục,
phòng ngừa để giảm thiểu TNLĐ không hữu hiệu.
-
Công tác giám sát, theo dõi, thống kê TNLĐ, BNN và ô nhiễm môi trường
lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Hàng năm, chỉ có
khoảng 3% tổng số doanh nghiệp có báo cáo TNLĐ và dưới 10% cơ sở sản
xuất có nguy cơ gây BNN tổ chức khám cho người lao động và đo đạc môi
trường làm việc.
Nguyên
nhân của những bất cập, tồn tại nêu trên là do ngân sách của Nhà nước
cho công tác quản lý nhà nước về BHLĐ chưa thoả đáng, chỉ khoảng 500
triệu đồng/năm cho các hoạt động như: Phân loại lao động theo điều kiện
lao động; khảo sát TNLĐ, BNN; xây dựng quy trình, quy phạm kỹ thuật an
toàn; các hoạt động thông tin, tuyên truyền và tổ chức Tuần lễ Quốc gia
về ATVSLĐ- PCCN.
Các cơ sở phục hồi chức năng cho người lao động còn thiếu và chưa được
đầu tư nâng cấp. Trang thiết bị phục vụ công tác đo đạc, kiểm tra môi
trường lao động, khám sức khoẻ còn lạc hậu, chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu
cầu.
Bên
cạnh đó, hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về BHLĐ, ATVSLĐ tuy đã
được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng chưa đồng bộ và chậm. Các quy
định về BHLĐ do nhiều cơ quan ban hành nên còn chồng chéo, không thống
nhất, làm người sử dụng lao động và người lao động khó thực hiện. Phần
lớn các quy trình, qui phạm được dịch từ các văn bản cũ của nước ngoài
nên nhiều điểm không phù hợp, thậm chí còn lạc hậu. Hiện nay, Việt Nam
có khoảng 200 tiêu chuẩn ATVLLĐ, nhưng phần lớn được xây dựng từ những
năm 1970- 1980, đến năm 1997 chỉ có 10 tiêu chuẩn Việt Nam về ATVSLĐ được sửa đổi, bổ sung...
Mặt
khác, bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về BHLĐ, ATVSLĐ từ trung
ương đến địa phương đang có sự bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ với
biên chế và trình độ cán bộ. Lực lượng thanh tra nhà nước về lao động
của cả nước đến nay không chỉ thiếu về số lượng, mà còn yếu về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ. Ngành Y tế cũng đang gặp khó khăn trong việc đào
tạo cán bộ có đủ khả năng khám phát hiện và điều trị BNN (hiện chỉ có
0,78% cán bộ có trình độ tiến sĩ, chuyên khoa cấp II và 15,8% cán bộ có
trình độ đại học trên tổng số cán bộ công nhân viên thuộc lĩnh vực y tế
dự phòng). Chức năng quản lý nhà nước đối với máy móc, thiết bị, vật
tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ còn chồng chéo, gây khó
khăn cho công tác quản lý nhà nước ở địa phương, gây phiền hà cho các
doanh nghiệp, đơn vị. Quỹ bồi thường TNLĐ-BNN chưa được xây dựng nên
nguồn chi trả cho một trường hợp bị TNLĐ hoặc BNN còn bị phân tán và
chưa giải quyết được khó khăn về tài chính cho người sử dụng lao động
khi phải bồi thường.
Không
chỉ là những tồn tại nêu trên, trong những năm tới, công tác quản lý
nhà nước về BHLĐ, ATVSLĐ còn phải đối mặt với nhiều thách thức và khó
khăn khác. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, đến năm 2010, sẽ có
trên 500 nghìn doanh nghiệp hoạt động, trong đó trên 95% là doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Điều này, tạo ra áp lực rất lớn đối với cơ quan
thanh tra lao động trong việc thanh tra, kiểm tra ATVSLĐ và ô nhiễm môi
trường lao động. Việc nhập khẩu và đưa vào sử dụng các máy, công nghệ,
vật liệu mới phục vụ sản xuất chính là sự tiềm ẩn những nguy cơ về
ATVSLĐ không thể lường trước do kết cấu, hình thức máy móc không phù
hợp với vóc dáng, sức khỏe của người Việt Nam. Đặc biệt, xu thế phát
triển mạnh các ngành công nghiệp khai khoáng, xây dựng và sự gia tăng
sử dụng điện trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển các
làng nghề, khu vực kinh tế hộ gia đình trong cơ chế thị trường nếu
thiếu sự kiểm soát về ATVSLĐ cũng sẽ làm tăng nguy cơ mất an toàn, vệ
sinh và ô nhiễm môi trường lao động.
Mặt
khác, lực lượng lao động tăng nhanh cùng với sự chuyển dịch một lượng
lớn lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp với trình
độ tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp cũng là một vấn đề. Cơ
chế quản lý doanh nghiệp hiện nay đang chuyển đổi rất đa dạng, chưa ổn
định, đặc biệt, quá trình cổ phần hóa, tư nhân hóa… làm cho công tác
BHLĐ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác quản lý, thực hiện
luật pháp và các chính sách.
Để
từng bước nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BHLĐ, trong giai đoạn
từ nay đến 2010, Nhà nước sẽ dành 40 tỷ đồng tiền ngân sách cùng với 10
tỷ đồng huy động từ các tổ chức quốc tế thực hiện một dự án với các mục
tiêu sau: Hoàn thiện hành lang pháp lý và bộ máy tổ chức làm công tác
BHLĐ; xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu về TNLĐ; nâng cao năng lực hệ
thống thanh tra, giám sát, báo cáo TNLĐ; đảm bảo 100% số vụ TNLĐ chết
người và TNLĐ nặng được điều tra và xử lý; thúc đẩy doanh nghiệp hoàn
thiện công tác quản lý công tác ATVSLĐ; góp phần bảo đảm trên 80% người
lao động được làm việc trong môi trường ATVSLĐ; xây dựng quỹ bồi thường
TNLĐ và BNN và xây mới các cơ sở phục hồi chức năng cho người bị TNLĐ
và BNN, góp phần bảo đảm 100% người lao động được hưởng các chế độ bồi
thường, trợ cấp TNLĐ, BNN, hưởng các dịch vụ điều trị và phục hồi chức
năng theo quy định của pháp luật; xây dựng chương trình hợp tác quốc tế
về lĩnh vực trợ giúp kỹ thuật, đào tạo huấn luyện ATVSLĐ.
Để những mục tiêu trên trở thành hiện thực, những giải pháp cần được
thực hiện là tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước về BHLĐ; sửa đổi, bổ sung nội dung ATVSLĐ trong Bộ Luật Lao động;
xây dựng Luật ATVSLĐ; nghiên cứu xây dựng chính sách và cơ chế khuyến
khích cải thiện điều kiện làm việc, phát triển các dịch vụ tư vấn, kiểm
định, đào tạo, huấn luyện về ATVSLĐ. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự
tham gia của các tổ chức đoàn thể vào mọi hoạt động của dự án, từ việc
lập kế hoạch triển khai, quản lý nguồn lực, giám sát và đánh giá kết
quả đến việc thụ hưởng thành quả từ các dự án. Phát huy đồng bộ các hệ
thống giám sát, đánh giá; tự giám sát, đánh gía.
Đồng thời với thực hiện những giải pháp nêu trên, phải triển khai các hoạt động chủ yếu sau:
-
Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước từ chuyên ngành đến
tổng thể; trang cấp thiết bị làm việc, tập huấn nâng cao năng lực đội
ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về BHLĐ, ATVSLĐ.
-
Rà soát, xây dựng lộ trình chỉnh sửa các văn bản pháp luật về BHLĐ,
ATVSLĐ (chế độ, chính sách đối với người làm nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm; trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi; bồi thường trợ cấp tai nạn lao động; chăm sóc
sức khoẻ người lao động; giám sát môi trường lao động; tiêu chuẩn, quy
chuẩn về AT-VSLĐ) tiến tới xây dựng Luật ATVSLĐ.
-
Điều tra về TNLĐ, tập trung vào lĩnh vực khai thác khoáng sản, xây dựng
và sử dụng điện. Thiết kế hệ thống phần mềm quản lý nhà nước về ATVSLĐ
(các phần mềm theo từng chuyên đề quản lý; phần mềm quản lý chung về
BHLĐ tại trung ương, địa phương...). Xây dựng và triển khai mô hình
quản lý ATVSLĐ trong doanh nghiệp (bước đầu làm thí điểm, sau mới triển
khai mô hình theo từng chuyên ngành và quy mô doanh nghiệp...). Đồng
thời hình thành Quỹ Bồi thường TNLĐ, BNN (thí điểm theo vùng, xây dựng
văn bản pháp luật để triển khai thực trên cả nước).
-
Triển khai thí điểm cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng cho người bị
TNLĐ tại Viện Khoa học Chỉnh hình Phục hồi chức năng. Hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực trợ giúp kỹ thuật, truyền thông, đào tạo, huấn luyện về
ATVSLĐ (nghiên cứu đề xuất cơ chế để thu hút đầu tư cho nhiệm vụ hợp
tác quốc tế; điều phối mạng ASEAN; tham gia Quỹ bồi thường quốc tế về
tổn thương nghề nghiệp; triển khai hoạt động đào tạo, tập huấn tham
quan học tập, trao ?ổi chuyên gia...).