|
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
thông báo đến các ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động
trong năm 2006 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự
cố và tai nạn lao động trong năm 2007 như sau :
A. TÌNH HÌNH CHUNG
I. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ).
Theo số liệu thống kê, báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, tình hình tai nạn lao động trong năm 2006 như sau:
- Tổng số vụ tai nạn lao động: 5.881 vụ, trong đó có 505 vụ tai nạn lao động chết người, 147 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên.
- Tổng số người bị nạn: 6.088 người, trong đó có 536 người chết và 1.142 người bị thương nặng.
II. Tình hình TNLĐ ở các địa phương.
1. Mười địa phương xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người trong năm 2006:
- Thành phố Hồ Chí Minh:
782 vụ (chiếm 13,3% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 798 người bị nạn
(chiếm 13,11% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 101 vụ tai nạn lao động chết người làm 103 người chết và 99 người bị thương nặng;
- Quảng Ninh: 253 vụ
(chiếm 4,3% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 306 người bị nạn (chiếm
5,03% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 41 vụ tai nạn lao động chết người làm 59 người chết và 131 người bị thương nặng;
- Đồng Nai: 872 vụ (chiếm 14,83% so với tổng
số vụ toàn quốc) làm 882 người bị nạn (chiếm 14,49% so với tổng số nạn
nhân toàn quốc), trong đó có 30 vụ tai nạn lao động chết người làm 31 người chết và 57 người bị thương nặng;
- Bình Dương: 1.316 vụ (chiếm
22,38% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 1.322 người bị nạn (chiếm
21,71% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 20 vụ tai nạn lao động chết người làm 20 người chết và 20 người bị thương nặng;
- Hà Nội: 152 vụ (chiếm 2,58%
so với tổng số vụ toàn quốc) làm 158 người bị nạn (chiếm 2,6% so với
tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 16 vụ tai nạn lao động chết người làm 16 người chết và 50 người bị thương nặng;
- Long An: 27 vụ (chiếm 0,46%
so với tổng số vụ toàn quốc) làm 34 người bị nạn (chiếm 0,56% so với
tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 15 vụ tai nạn lao động chết người làm 22 người chết và 12 người bị thương nặng;
- Đà Nẵng: 39 vụ (chiếm 0,66%
so với tổng số vụ toàn quốc) làm 42 người bị nạn (chiếm 0,69% so với
tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 13 vụ tai nạn lao động chết người làm 13 người chết và 7 người bị thương nặng;
- Cần Thơ: 25 vụ (chiếm 0,43%
so với tổng số vụ toàn quốc) làm 25 người bị nạn (chiếm 0,41% so với
tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 13 vụ tai nạn lao động chết người làm 13 người chết và 7 người bị thương nặng;
- Bà Rịa – Vũng Tàu: 44 vụ (chiếm 0,75% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 44 người bị nạn (chiếm 0,72% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 11 vụ tai nạn lao động chết người làm 11 người chết và 22 người bị thương nặng;
- Hải Phòng: 277 vụ (chiếm
4,71% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 286 người bị nạn (chiếm 4,7% so
với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 10 vụ tai nạn lao động chết người làm 10 người chết và 83 người bị thương nặng.
2. Một số địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người tăng cao so với năm 2005 là Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Long An, Cần Thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thái Bình …
B. PHÂN TÍCH CÁC VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG.
Tình hình khai báo, điều tra
các vụ tai nạn lao động hiện nay vẫn chậm so với quy định. Theo báo cáo
của 64 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thì năm 2006 toàn quốc xảy
ra 505 vụ tai nạn lao động chết người làm 536 người chết, nhưng đến 25 tháng 01 năm 2007, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mới nhận được 244 biên bản điều tra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, chết người làm 265 người chết và 48 người bị thương nặng. Phân tích từ 244 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người, có một số đánh giá như sau:
I. Những Bộ, Ngành xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp chiếm 16,8% tổng số vụ và 20,75% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng chiếm 11,07% tổng số vụ và 10,19% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông vận tải chiếm 5,74% tổng số vụ và 5,28% tổng số người chết.
- Các doanh nghiệp thuộc các
địa phương quản lí (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài) chiếm 60,66% tổng số
vụ và 58,49% tổng số người chết.
- Số còn lại thuộc các Bộ, ngành khác như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Bưu chính Viễn thông…
II. Những Tập đoàn, Tổng Công ty xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người.
- Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam chiếm 12,7% tổng số vụ và 16,98% tổng số người chết.
- Tổng công ty VINACONEX chiếm 2,05% tổng số vụ và 1,89% tổng số người chết.
- Tổng công ty Xây dựng Sông Đà chiếm 1,64% tổng số vụ và 1,51% tổng số người chết.
- Tổng công ty Điện lực Việt Nam chiếm 1,64% tổng số vụ và 1,51% tổng số người chết.
- Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam chiếm 1,64% tổng số vụ và 1,51% tổng số người chết.
- Tổng công ty Xây dựng Thăng long chiếm 1,23% tổng số vụ và 1,13% tổng số người chết.
III. Những lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người.
- Lĩnh vực xây lắp các công trình
dân dụng, công nghiệp và công trình giao thông chiếm 34,43% tổng số vụ
và 32,45% tổng số người chết.
- Lĩnh vực khai thác than chiếm 12,7% tổng số vụ và 16,98% tổng số người chết.
- Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 9,02% tổng số vụ và 8,3% tổng số người chết.
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 7,8% tổng số vụ và 7,17% tổng số người chết.
IV. Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người.
- Liên quan đến mặt bằng sản xuất chiếm 21,72% tổng số vụ và 20,38% tổng số người chết.
- Liên quan đến Thiết bị nâng, thang máy chiếm 7,8% tổng số vụ và 7,55% tổng số người chết.
- Liên quan đến đường dây tải điện chiếm 6,15% tổng số vụ và 5,66% tổng số người chết.
- Liên quan đến máy hàn điện chiếm 4,92% tổng số vụ và 4,53% tổng số người chết.
- Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác chiếm 4,1% tổng số vụ và 4,15% tổng số người chết.
V. Các yếu tố chấn thương gây tai nạn lao động chết người nhiều nhất.
- Điện giật chiếm 20,1% tổng số vụ và 18,87% tổng số người chết.
- Ngã từ trên cao chiếm 16,4% tổng số vụ và 15,47% tổng số người chết.
- Vật đổ, đè chiếm 7,78% tổng số vụ và 7,17% tổng số người chết.
- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 4,1% tổng số vụ và 4,15% tổng số người chết.
- Vật văng bắn chiếm 2,87% tổng số vụ và 2,64% tổng số người chết.
VI. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người.
- Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy phạm Kỹ thuật an toàn: Chiếm 17,62% tổng số vụ và 16,23% tổng số người chết.
- Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động: Chiếm 15,57% tổng số vụ và 15,47% tổng số người chết.
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động: Chiếm 13,11% tổng số vụ và 12,45% tổng số người chết.
- Người sử dụng lao động không xây
dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn: Chiếm 11,89% tổng số vụ và
11,32% tổng số người chết.
- Chưa huấn luyện an toàn lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân: Chiếm 4,92% tổng số vụ và 4,9% tổng số người chết.
VII. Xử lý trách nhiệm.
Trong tổng số 244 vụ tai nạn
lao động do các Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh tiến hành điều
tra, đã chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để đề nghị truy cứu trách nhiệm
hình sự và khởi tố trách nhiệm hình sự các cá nhân có trách nhiệm liên
quan trong 7 vụ tai nạn lao động, chiếm 2,87% tổng số vụ tai nạn lao
động chết người đã điều tra, xử lý.
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG.
Qua phân tích tình hình báo cáo tai nạn lao động năm 2006 cho thấy:
1. So với năm 2005:
Năm 2006 đã tăng 31,13% về tổng số vụ tai nạn lao động, tăng 31,6% tổng
số người bị nạn; tăng 12,28% số vụ tai nạn lao động chết người, tăng
11,75% số người chết.
2. Tình hình điều tra tai nạn lao động:
Nhìn chung các vụ tai nạn lao động đã được điều tra đúng quy định tại
Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005
của Liên tịch Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên nhiều địa phương còn chậm gửi biên
bản điều tra về Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. Trong năm 2006, một
số địa phương đã tiến hành điều tra TNLĐ và báo cáo về Bộ khẩn trương,
kịp thời như: Quảng Ninh, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Định...
3. Chất lượng báo cáo tai nạn lao động năm 2006:
- Nhiều địa phương đã thực
hiện tốt việc báo cáo tình hình tai nạn lao động theo đúng mẫu và thời
gian quy định tại Thông tư liên tịch số
14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam. Tuy nhiên vẫn còn một số địa phương báo cáo không đúng mẫu, báo
cáo số liệu không khớp giữa các cột mục hoặc chỉ báo cáo tổng số mà
không phân tích theo các yếu tố theo biểu mẫu quy định. Đặc biệt tỷ lệ
báo cáo của các doanh nghiệp về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa
phương nhìn chung rất thấp do vậy đã gây khó khăn trong việc tổng hợp,
đánh giá tình hình tai nạn lao động toàn quốc. Để hạn chế tình trạng
này trong năm 2007, đề nghị Thanh tra lao động các địa phương kiên
quyết xử phạt các doanh nghiệp không báo cáo định kỳ về tai nạn lao
động 6 tháng, 1 năm theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-Chính
phủ ngày 16/4/2004 của Chính phủ.
4. Thiệt hại về vật chất
Theo số liệu báo cáo của các địa
phương, thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra trong năm 2006
(chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người
chết và những người bị thương,...) là 46,597 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 3,853 tỷ đồng. Tổng số ngày nghỉ do TNLĐ lên đến 56.122 ngày.
D. MỘT SỐ VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI NGHIÊM TRỌNG NĂM 2006
1. Vụ tai nạn lao động do
cháy, nổ khí mê tan trong lò khai thác than ngày 06/3/2006 tại Công ty
than Thống Nhất thuộc Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam
làm chết 8 người. Nguyên nhân chính là công tác kiểm tra, giám sát thực
hiện các quy định về an toàn lao động chưa sâu sát , việc chấp hành các
quy định về an toàn của người lao động chưa nghiêm, cán bộ chỉ huy sản
xuất thiếu kiên quyết đã gây hậu quả nghiêm trọng.
2. Vụ tai nạn lao động do bục túi nước trong lò khai thác than xảy ra ngày 31/3/2006 tại Công ty than Mông Dương thuộc
Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam làm chết 4 người.
Nguyên nhân chính là công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định
về an toàn lao động chưa sâu sát.
3. Vụ tai nạn lao động do sập đổ
công trình đang xây dựng tại khu phố Phú Nhơn, phường 5, thị xã Tân An,
tỉnh Long An xảy ra ngày 20/10/2006 làm chết 7 người và bị thương nặng
4 người. Nguyên nhân gây tai nạn chưa có kết luận chính thức do điều
tra chưa xong.
4. Vụ tai nạn lao động do hít phải
hơi khí độc tại hầm chứa xác cá thải của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đa
Năng, huyện Bến Lức, tỉnh Long An xảy ra ngày 14/10/2006 làm chết 2
người, bị thương 4 người. Nguyên nhân chính là do người lao động khi
làm việc không có đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết.
E. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN NĂM 2007
Căn cứ vào tình hình và nguyên nhân
xảy ra tai nạn lao động trong năm 2006, để chủ động phòng ngừa và hạn
chế tai nạn lao động trong thời gian tới, Bộ Lao động-Thương binh và Xã
hội đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Thanh tra Lao động tăng cường
thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh
lao động ở tất cả các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế. Cần lưu ý đến
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các lĩnh vực: xây dựng; lắp đặt,
sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản và khai thác đá; sử dụng
các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Kiên
quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm luật pháp
lao động theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004
của Chính phủ.
2. Các Bộ, ngành, tập đoàn, tổng
công ty tăng cường kiểm tra và chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền quản lý
của mình thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn, vệ sinh
lao động và các chế độ bảo hộ lao động. Tổ chức huấn luyện về an toàn
lao động cho người sử dụng lao động theo quy định tại Thông tư số
37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã
hội. Tổ chức hội nghị đánh giá đúng mức các nguyên nhân gây ra tai nạn
lao động để phổ biến rút kinh nghiệm trong toàn ngành, tập đoàn, tổng
công ty, đồng thời đề ra các biện pháp cần thiết để ngăn chặn và đẩy
lùi tai nạn lao động. Kiểm điểm, xử lý nghiêm khắc các đơn vị, cá nhân
để xảy ra tai nạn lao động.
3. Người sử dụng lao động phải
thường xuyên kiểm tra máy, thiết bị, cải thiện điều kiện làm việc để
đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường an toàn. Xây
dựng đầy đủ các quy trình, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh lao động
theo hướng dẫn tại các Tiêu chuẩn, Quy phạm kỹ thuật an toàn và hướng
dẫn cho người lao động trước khi làm việc. Tổ chức huấn luyện về an
toàn, vệ sinh lao động đầy đủ cho người lao động theo quy định tại
Thông tư số 37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động-Thương
binh và Xã hội và tuyên truyền, giáo dục cho người lao động tự giác
chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động. Đặc biệt chú ý đối
với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc
hại hoặc tiếp xúc với những đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn
lao động, vệ sinh lao động.
4. Chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động toàn quốc; Thanh
tra, kiểm tra chuyên đề về công tác báo cáo cũng như kiên quyết áp dụng
các chế tài đối với cơ sở không chấp hành nghiêm túc chế độ báo cáo về
TNLĐ.
5. Phối hợp với các cơ quan có
thẩm quyền để tiến hành điều tra kịp thời, chính xác các vụ tai nạn lao
động chết người trong các thành phần kinh tế, chú ý các doanh nghiệp
nhỏ và vừa có quy trình sản xuất phức tạp, độc hại, ảnh hưởng môi
trường nhưng thiếu ý thức phòng ngừa TNLĐ.
6. Xử lý nghiêm những cá nhân
thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh
lao động và kiên quyết đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân
có trách nhiệm liên quan nếu có những vi phạm pháp luật lao động để xảy
ra tai nạn lao động chết người nghiêm trọng.
7. Tăng cường công tác tuyên
truyền pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động nhằm nâng cao trách nhiệm
đối với các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động để mọi
người đều có ý thức cảnh giác và phòng ngừa tai nạn lao động./.
Theo http://www.antoanlaodong.gov.vn
|