|
|
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Số: 12/2005/TT-BLĐTBXH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2005
|
THÔNG TƯ
Hướng dẫn một số điều của
Nghị định số 113/2004/NĐ-CP
ngày 16 tháng 4 năm 2004
của Chính phủ quy định xử phạt
hành chính về hành vi vi
phạm pháp luật lao động
Thi hành
Điều 37, Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy
định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động;
Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện như sau:
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Đối
tượng và phạm vi điều chỉnh
Thông tư
này hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày
16/4/2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp
luật lao động (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 113/2004/NĐ-CP".
2. Các
trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính:
a. Cá
nhân, tổ chức nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền miễn trừ xử phạt hành
chính theo quy định của pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện tổ chức quốc tế tại
Việt Nam;
b. Trường
hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6 của Nghị
định số 113/2004/NĐ-CP;
c. Vi phạm
hành chính có dấu hiệu tội phạm, hồ sơ được chuyển cho cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật hình
sự.
3. Người
có thẩm quyền xử phạt khi xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động phải căn
cứ các hành vi vi phạm hành chính về pháp luật lao động, hình thức và mức phạt
cụ thể tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP để quyết định đúng mức phạt; đồng thời
hướng dẫn tổ chức, cá nhân bị xử phạt thực hiện quyết định xử phạt đúng quy
định.
II. HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
1. Vi phạm
quy định về việc làm tại điểm d, khoản 1; khoản 2; điểm a, khoản 3 Điều 8 của
Nghị định số 113/2004/NĐ-CP được áp dụng đối với:
a. Vi phạm
một trong những quy định về thủ tục tuyển lao động được quy định tại Nghị định
số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm và Thông tư số
20/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 9 năm 2003 của Bộ lao động - Thương binh và Xã
hội;
b. Về mức
trợ cấp mất việc làm đối với người lao động: người sử dụng lao động trả trợ cấp
mất việc làm thấp hơn mức quy định tại Điều 17 của Bộ luật lao động;
c. Việc
lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm không đúng quy định tại khoản 3 Điều
17 của Bộ luật lao động, Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính
phủ, Thông tư số 82/2003/TT-BTC ngày 14/8/2003 và Thông tư số 07/2004/TT-BTC
ngày 9/2/2004 của Bộ Tài chính.
2. Vi phạm
quy định về học nghề tại khoản 1, 2 Điều 9 của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP được
áp dụng đối với:
a. Vi phạm
một trong những quy định về việc thành lập, đăng ký, hoạt động, chia tách, sáp
nhập, đình chỉ hoạt động và giải thể cơ sở dạy nghề được quy định tại các Điều
4, 5, 6, 7, 8, 9, 15, 16, 17, 19, 24 và 27 của Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày
9/1/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật lao động và Luật Giáo
dục về dạy nghề;
b. Thu học
phí học nghề đối với người thuộc đối tượng không phải thu quy định tại các Điều
65, 66 của Nghị định số 28/CP ngày 29 tháng 4 năm 1995 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động
cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động
kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng;
c. Thu học
phí cao hơn khung quy định đối với học sinh học nghề đựơc quy định tại điểm 2.1
khoản 2, Điều 3 của Quyết định số 70/1998/QĐ- TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công
lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
3. Vi phạm
quy định về hợp đồng lao động tại khoản
2 Điều 10 của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp:
Người lao
động thực tế đã làm việc với thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên nhưng chưa được
người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động hoặc trong trường hợp người
lao động đã hoàn thành liên tục hai hợp đồng lao động xác định thời hạn, sau đó
lại tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao
động hay có giao kết nhưng với thời hạn xác định cũng được coi là giao kết hợp
đồng không đúng loại.
4. Vi
phạm quy định về bảo hiểm xã hội tại Điều 18 và 21 của Nghị định số
113/2004/NĐ-CP được hướng dẫn như sau:
a. Hành vi
đóng bảo hiểm xã hội không đầy đủ cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội
theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP
ngày 26/01/1995 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Điều lệ Bảo hiểm xã hội) bao
gồm:
- Đóng
không đúng mức quy định;
- Đóng
không đủ thời gian theo quy định.
b. Hành vi
không đóng hoặc không trả tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động theo Điều lệ
Bảo hiểm xã hội nói trên bao gồm:
- Người sử
dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội;
- Người sử
dụng lao động đã thu 5% tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và
không trích 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia bảo hiểm xã
hội trong đơn vị để đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội;
- Đóng
không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong đơn vị;
- Không
trả khoản tiền bảo hiểm xã hội theo quy định vào lương cho người lao động không
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
c. Hành vi
cấp giấy chứng nhận sai cho người lao động là việc xác nhận, lập danh sách
không đúng thực tế để người lao động hưởng chế độ trợ cấp ốm đau, điều trị tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
d. Hành vi
cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của
người lao động bao gồm:
- Chậm
lập, hoàn thiện hồ sơ và làm thủ tục giải quyết hoặc ra quyết định để người lao
động hưởng chế độ bảo hiểm xã hội sau 30 ngày, kể từ ngày người lao động đã cung
cấp đủ hồ sơ hợp lệ;
- Trì hoãn
trả tiền cho người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội sau 30 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định chi trả của cơ quan, bảo hiểm xã hội (các chế độ ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp);
- Cơ quan
Bảo hiểm xã hội kéo dài thời gian xét duyệt hồ sơ giải quyết bảo hiểm xã hội
cho người lao động quá 30 ngày kể từ ngày được cung cấp đủ hồ sơ hợp lệ.
đ. Hành vi
đóng bảo hiểm xã hội chậm từ 30 ngày trở lên kể từ thời hạn phải đóng theo quy
định tại Điều 37 của Điều lệ Bảo hiểm xã hội hoặc quá thời hạn Chính phủ cho
phép.
e. Hành vi
không lập sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao
động bao gồm:
- Người sử
dụng lao động không lập hồ sơ, làm thủ tục để cơ quan bảo hiểm xã hội cấp sổ
bảo hiểm xã hội cho người lao động sau 90 ngày kể từ khi người lao động vào làm
việc và đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức;
- Không
trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt và
người lao động rời khỏi đơn vị.
g. Hành vi
người lao động, gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội bao
gồm:
- Kê khai
không đúng sự thật hoặc chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc
hưởng bảo hiểm xã hội trong hồ sơ;
- Làm giả
các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền để đưa vào hồ sơ hưởng bảo hiểm xã
hội.
h. Hành vi
cấp giấy chứng nhận giám định hoặc xếp hạng thương tật sai cuả các cơ sở khám
chữa bệnh, giám định sức khỏe là việc chứng nhận hoặc xếp hạng thương tật do
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người tham gia bảo hiểm xã hội không
đúng quy định của Bộ Y tế.
III. THỦ TỤC XỬ PHẠT
VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
Người có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật lao động phải thực hiện đúng
thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt hành chính theo Điều 31 của Nghị
định số 113/2004/NĐ-CP và thực hiện theo quy định sau đây:
1. Khi
phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm
quyền xử phạt đang thi hành công vụ phải ra quyết định đình chỉ ngay vi phạm
theo quy định tại Điều18 của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 134/2003/NĐ-CP) và kịp
thời lập biên bản vi phạm hành chính về pháp luật lao động. Biên bản vi phạm
hành chính về pháp luật lao động theo Mẫu biên bản số 01 ban hành kèm theo Nghị
định số 134/2003/NĐ-CP đính kèm Thông tư này.
2. Trong
trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản quy định tại Điều 19 của Nghị định số
134/2003/NĐ-CP, người có thẩm quyền không lập biên bản mà thực hiện việc xử
phạt tại chỗ. Quyết định xử phạt tại chỗ theo Mẫu số 05 áp dụng cho hình thức
Xử phạt cảnh cáo và Mẫu quyết định số 06 áp dụng cho hình thức phạt tiền ban hành
kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP đính kèm Thông tư này.
3. Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính, đối với vụ vi
phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt
là ba mươi ngày. Người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm theo
Mẫu quyết định số 07 ban hành kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP đính kèm
Thông tư này.
4. Trường
hợp vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì trong thời
gian 5 ngày, người đó phải gửi biên bản cùng toàn bộ hồ sơ vi phạm đến người có
thẩm quyền xử phạt. Khi thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính đối với
đối tượng bi xử phạt thì người ra quyết định xử phạt gửi 01 bản quyết định xử
phạt cho người chuyển kiến nghị yêu cầu xử phạt biết.Trong trường hợp người có
thẩm quyền xử phạt nhận được yêu cầu xử phạt hành chính mà không thực hiện thì
phải thông báo bằng văn bản, trong đó nói rõ lý do cho người chuyển kiến nghị
biết.
5. Người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quy định tại các Điều 26, 27, 28 của
Nghị định số 113/2004/NĐ-CP vắng mặt thì ủy quyền cho cấp phó của mình.
Việc ủy
quyền phải bằng văn bản và do chính người ủy quyền ký. Trong giấy uỷ quyền phải
nêu rõ phạm vi, thời hạn ủy quyền.
6. Cá
nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính mà không tự nguyện chấp hành quyết
định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 66 của Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Quyết định cưỡng chế vi phạm theo Mẫu số 08
ban hành kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP đính kèm Thông tư này
7. Trong
trường hợp quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1
Điều 6 của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP, thì không bị xử phạt, nhưng người có
thẩm quyền xử phạt có thể quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Quyết
định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong
trường hợp không áp dụng xử phạt về vi phạm pháp luật lao động theo Mẫu quyết
định số 09 ban hành kèm theo Nghị định số 134/ 2003/ NĐ-CP đính kèm Thông tư
này.
IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Thông tư
này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Trong quá
trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần được giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung
thì phản ánh về Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, để trong phạm vi, chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của mình có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp
thời./.
|
Nơi nhận: - Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng
Chính phủ; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao; - Ban
Kinh tế Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ban Tư tưởng văn hoá Trung
ương, Văn phòng Trung ương Đảng; - Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Thuộc
chính phủ; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - Cục Kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật - Bộ Tư pháp; - UBND
các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương; - Sở Tài chính, Cục Thuế, Kho bạc Nhà
nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Sở Tư pháp, Sở LĐTBXH, Các
sở Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Các Vụ, Cục, đơn vị
trực thuộc Bộ LĐTBXH. - Lưu VP Bộ.
|
BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Nguyễn Thị Hằng
|
|