|
Thông Tư Của Bộ
Lao Động - Thương Binh Và Xã Hội Số 7-LÐTBXH/TT
Ngày
11-4-1995 Hướng Dẫn Thực Hiện Một Số Ðiều Của Bộ Luật Lao Động Ngày 23-6-1994
Và Nghị Định
Số 195-Cp Ngày 31-12-1994 Của Chính Phủ Về Thời Giờ Làm Việc, Thời Giờ Nghỉ Ngơi.
Căn cứ Bộ
Luật Lao động ngày 23-6-1994 và Nghị định số 195-CP ngày 31-12-1994 của Chính
phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Ðiều của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ
ngơi; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều cụ
thể như sau:
I. THờI
GIờ LàM VIệC
Thời giờ
làm việc nêu tại Khoản 1 Ðiều 3 của Nghị định số 195-CP là thời giờ làm việc
bình thường áp dụng
chung cho mọi đối tượng lao động.
Thời giờ
làm việc trong điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đươc
rút ngắn từ một đến
hai giờ quy định tại Khoản 2 Ðiều 3 của Nghị định số 195-CP do Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội
và Bộ Y tế ban hành hoặc thoả thuận.
II. THờI
GIờ NGHỉ NGơI
1. Nghỉ
giữa ca.
Thời gian
nghỉ giữa ca nêu tại Ðiều 7 của Nghị định số 195-CP đươc coi là thời giờ làm
việc trong ca liên tục
8 giờ trong điều kiện bình thường hoặc làm việc 7 giờ; 6 giờ liên tục trong
trường hợp đươc rút ngắn.
Thời gian nghỉ cụ thể tuỳ thuộc vào tổ chức lao động của đơn vị, doanh nghiệp,
không nhất thiết mọi người
lao động phải nghỉ cùng một lúc giữa ca.
2. Nghỉ
hàng năm
a) Thời
gian để tính nghỉ hàng năm là theo năm dương lịch:
- Nếu
người lao động có thời gian làm việc đủ 12 tháng kể cả thời gian đươc coi là
thời gian làm việc quy định
tại Khoản 1 Ðiều 9 của Nghị định số 195-CP, thì đươc nghỉ hàng năm đủ số ngày
quy định tại Ðiều 74
của Bộ Luật Lao động.
- Nếu
chưa đủ 12 tháng, thì ngày nghỉ hàng năm đươc tính tương ứng với số tháng làm
việc trong năm.
- Trong
một năm làm việc, người lao động có tổng thời gian nghỉ (cộng dồn) do tai nạn
lao động, bệnh nghề
nghiệp quá 6 tháng (144 ngày làm việc); hoặc nghỉ do ốm đau quá 3 tháng (72
ngày làm việc), thì thời gian
đó không đươc tính để hưởng chế độ nghỉ hàng năm của năm ấy.
b) Mức
nghỉ hàng năm.
Thời gian
nghỉ hàng năm: 12; 14 hoặc 16 ngày là ngày làm việc người lao động đươc nghỉ và
hưởng nguyên
lương quy định như sau:
- 12 ngày
làm việc đối với người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường.
- 14 ngày
làm việc đối với:
+ Người
làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
+ Người
lao động dưới 18 tuổi.
+ Người
làm công việc trong điều kiện lao động bình thường ở vùng có hệ số phụ cấp khu
vực 0,70 trở lên theo
quy định tại Thông tư số 15-LÐTBXH/TT ngày 2-6-1993 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội và
các văn bản bổ sung.
Ví dụ:
Công nhân A đang làm công việc có điều kiện lao động bình thường, hàng năm đươc
nghỉ ở mức 12
ngày/năm. Năm 1995 công ty cử công nhân A lên làm việc ở vùng có hệ số phụ cấp
khu vực 0,70, thì
thời gian nghỉ hàng năm của năm 1995 của công nhân A đươc nghỉ 14 ngày.
- 16 ngày
làm việc đối với:
+ Người
làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
+ Người
làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở vùng có hệ số phụ cấp khu vực
0,70 trở lên.
Ví dụ: Kỹ
sư A và kỹ sư B đang làm việc ở văn phòng Viện Nghiên cứu hạt nhân mức nghỉ
hàng năm là 12
ngày. Năm 1995 kỹ sư A đươc điều xuống làm việc 5 tháng và kỹ sư B đươc điều
xuống làm việc 7 tháng ở
một cơ sở làm công việc có quy định nghỉ hàng năm là 16 ngày. Như vậy năm 1995
kỹ sư A đươc nghỉ
hàng năm 12 ngày, kỹ sư B đươc nghỉ hàng năm 16 ngày.
Trong một
năm, người lao động làm việc đủ 12 tháng, nếu có thời gian làm công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy
hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc vùng có mức phụ cấp khu
vực nói trên từ 6
tháng trở lên thì cũng đươc nghỉ hàng năm ở mức 14 ngày, hoặc 16 ngày.
c) Tính
ngày đi đường:
Thời gian
đi đường đươc tính thêm tại Khoản 3 của Ðiều 9 trong Nghị định số 195-CP chỉ
tính một lần trong mỗi
năm làm việc của người lao động. Nếu trong một năm người lao động chia kỳ nghỉ
hàng năm ra nhiều
lần nghỉ, thì chỉ đươc tính thời gian đi đường một lần.
Trong
thời gian đi đường hoặc ở nơi nghỉ hàng năm, người lao động bị ốm đau, phải chờ
đợi do gặp thiên tai
(bão, lụt), hoả hoạn, hoặc cần phải thực hiện công việc theo yêu cầu khẩn cấp
về an ninh, quốc
phòng, nếu có xác nhận của chính quyền sở tại nơi xảy ra sự cố, thì thời gian
đó đươc coi là thời gian nghỉ
hợp pháp. Việc trả lương cho những ngày nghỉ này do người lao động và người sử
dụng lao động thoả
thuận và đươc ghi nhận trong hợp đồng lao động hoặc trong thoả ước lao động tập
thể.
Riêng
trường hợp ốm đau thì thời gian đó đươc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy
định hiện hành.
d) Thanh
toán tiền tàu, xe và tiền lương ngày đi đường.
Người làm
việc ở những vùng xa xôi hẻo lánh (vùng núi cao, vùng sâu, hải đảo xa theo danh
mục của Uỷ ban
Dân tộc và Miền núi quy định tại Quyết định số 21-UB/QÐ ngày 26-1-1993 và các
quyết định bổ sung),
đươc người sử dụng lao động thanh toán tiền tàu, xe và tiền lương cho những
ngày đi đường ở trong
nước trong trường hợp nghỉ hàng năm để đi thăm vợ hoặc chồng; con; bố, mẹ (kể
cả bên chồng hoặc bên
vợ).
3. Tính
ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc.
a) Thâm
niên làm việc.
Thâm niên
làm việc để đươc tính thêm ngày nghỉ hàng năm là tổng số năm thực tế người lao
động đã làm việc
cho một người sử dụng lao động hoặc với một doanh nghiệp theo Ðiều 75 của Bộ
Luật Lao động bao
gồm cả thời gian học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp đó. Trong trường hợp có
gián đoạn, thì thâm
niên làm việc bằng tổng số năm thực tế làm việc theo từng giai đoạn với một
người sử dụng lao động
hoặc một doanh nghiệp. Thâm niên này tính như sau:
- Người
lao động đang làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước thì thâm niên
làm việc đươc tính
bằng tổng số năm thực tế làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị
lực lương vũ
trang (đối với người đã chuyển ngành) trừ thời gian người lao động đã đươc tính
để hưởng chế độ
thôi việc theo Quyết định số 176-HÐBT ngày 9-10-1989 hoặc theo Quyết định số
111-HÐBT ngày
12-4-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), và Thông tư số 88-TTg ngày
1-10-1964 của Thủ
tướng Chính phủ; chế độ trợ cấp xuất ngũ; chế độ hưu trí, mất sức và thời gian
nghỉ với lý do khác mà không
hưởng lương và chế độ bảo hiểm xã hội.
Ví dụ:
Cán bộ A vào làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước từ tháng 1 năm 1975 cho đến
1-1990 thì chuyển
sang làm việc ở doanh nghiệp tư nhân. Tháng 1-1994 lại chuyển về cơ quan của
Nhà nước.
Khi thực
hiện chế độ nghỉ hàng năm năm 1995, cán bộ A đươc tính số năm làm việc để tính
thêm ngày nghỉ hàng
năm như sau:
Từ tháng
1 năm 1975 đến tháng 1 năm 1990 = 15 năm
Từ tháng
1 năm 1994 đến tháng 12 năm 1995 = 2 năm
Tổng số
năm làm việc của cán bộ A để tính thêm ngày nghỉ hàng năm là 17 năm.
- Công
nhân, viên chức trong các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước chuyển đến làm việc ở
các đơn vị, doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, tổ chức, cá nhân có thuê mướn lao động,
các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức Quốc tế thì số năm thực tế làm việc ở
các cơ quan,
doanh nghiệp Nhà nước có thể đươc tính vào thâm niên làm việc để tính thêm ngày
nghỉ hàng năm nếu
đươc người sử dụng lao động đồng ý và đươc ghi nhận trong thoả ước lao động tập
thể hoặc trong hợp
đồng lao động.
- Người
lao động đang làm việc trong các đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
khác, tổ chức, cá nhân có
thuê mướn lao động, thì thâm niên làm việc là tổng số năm thực tế làm việc cho
một đơn vị, một doanh
nghiệp hoặc một cá nhân đó.
- Người
lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các
doanh nghiệp trong khu
chế xuất, khu công nghiệp; các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức Quốc tế
tại Việt Nam, thì
thâm niên làm việc là tổng số năm thực tế làm việc cho một doanh nghiệp, một cơ
quan, hoặc một tổ
chức đó.
Ví dụ:
Cán bộ B đã làm việc ở cơ quan Nhà nước từ năm 1975 đến năm 1994, sau đó cán bộ
B đươc chuyển
sang làm việc ở doanh nghiệp liên doanh thì mốc thời điểm tính thâm niên cho
cán bộ B là từ năm 1994,
nhưng cũng có thể tính từ năm 1975 nếu người sử dụng lao động của doanh nghiệp
đồng ý.
b) Cách
tính ngày nghỉ hàng năm đươc tăng thêm theo thâm niên làm việc như sau:
Người lao
động cứ có 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động hoặc một doanh nghiệp
thì đươc tính
nghỉ thêm 1 ngày làm việc đươc hưởng nguyên lương, số ngày nghỉ thêm nhiều hay
ít phụ thuộc vào
số năm thực tế làm việc, cụ thể như sau:
- Có dưới
5 năm làm việc thì nghỉ hàng năm theo tiêu chuẩn tại Ðiều 74 Bộ Luật Lao động;
- Có đủ 5
năm đến dưới 10 năm thì đươc nghỉ thêm 1 ngày;
- Có đủ
10 năm đến dưới 15 năm thì đươc nghỉ thêm 2 ngày;
- Có đủ
15 năm đến dưới 20 năm thì đươc nghỉ thêm 3 ngày;
- Có đủ
20 năm đến dưới 25 năm thì đươc nghỉ thêm 4 ngày;
- Có đủ
25 năm đến dưới 30 năm thì đươc nghỉ thêm 5 ngày;
- Có đủ
30 năm đến dưới 35 năm thì đươc nghỉ thêm 6 ngày;
4. Số
ngày nghỉ hàng năm đươc hưởng lương theo Ðiều 11 của Nghị định đươc tính như
sau:
Số ngày
nghỉ
Số ngày
nghỉ tiêu
Số ngày
nghỉ
Số thàng
đã
Hàng năm
được = chuẩn (12, 14 hoặc + tăng thêm theo x làm
việc trong Hưởng
lương 16 ngày) thâm niên năm 12
Kết quả
lấy tròn số hàng đơn vị (nếu số lẻ lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn 1 đơn vị,
nếu nhỏ hơn 0,5 thì
bỏ).
Ví dụ:
Công nhân A có mức nghỉ hàng năm theo quy định tại Ðiều 74 Bộ Luật Lao động là
14 ngày.Công nhân
A vào làm việc ở doanh nghiệp từ tháng 1 năm 1972. Tháng 7 năm 1995, công nhân
A đươc nghỉ
chế độ hưu. Số ngày nghỉ hàng năm 1995 của công nhân A đươc tính như sau:
Ngày nghỉ
theo thâm niên từ 1995 - 1972 ứng với 4 ngày nghỉ thêm.
Số ngày
đươc tính là: [(14 + 4): 12] x 7 tháng = 10,5
Lấy tròn
là 11 ngày nghỉ đươc hưởng nguyên lương.
Thông tư
này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Những quy định trước đây
trái thông tư này đều
bãi bỏ.
Trong quá
trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương phản ánh
về Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội xem xét giải quyết.
BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO
ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH
HOAN
|